Triển lãm “Phía sau Đông Dương” không hướng về Đông Dương, mà nhìn vào những thế hệ nghệ sĩ đến sau, những người cũng tìm về căn tính trong văn hoá Việt và kiến tạo ngôn ngữ nghệ thuật riêng. Dù mỗi người lựa chọn một con đường khác nhau, họ vẫn gặp nhau ở sự trân trọng những giá trị văn hóa Việt Nam và chuyển hóa chúng thành những biểu đạt mang tinh thần hiện đại.
Triển lãm giới thiệu ba nghệ sĩ: Phan Cẩm Thượng, Lý Trực Sơn và Đỗ Thị Kim Đoan. Dù thuộc ba thực hành nghệ thuật khác nhau, các nghệ sĩ đều gặp nhau ở một điểm chung: khả năng chuyển hóa những giá trị văn hóa Việt Nam thành một thứ mỹ cảm đan xen giữa tinh tế và mộc mạc.
Trong thực hành của Phan Cẩm Thượng (1957), hội họa gắn chặt với nghiên cứu văn hóa cổ Việt Nam, thứ mà chính nghệ thuật Đông Dương từng cố gắng nghiên cứu và tái khám phá. Tranh của ông không tìm kiếm sự hào nhoáng thị giác mà gợi ra một vẻ nguyên thủy nơi ký ức văn hóa được chắt lọc qua hình tượng, chất liệu và nhịp điệu tạo hình. Đó là thứ tinh thần gần với vẻ đẹp tiết chế và chiều sâu lịch sử mà Việt cổ từng mang trong mình.
Với Đỗ Thị Kim Đoan (1958), chất liệu sơn mài truyền thống trở thành nơi lưu giữ cảm giác gia đình, sự ấm áp và những ký ức đời sống Việt Nam. Sau hơn 30 năm làm việc cùng sơn mài, nghệ sĩ lại tạo nên những thể hiện bề mặt đơn giản và tinh. Những mảnh vườn, con người gợi nên không khí của thị dân Hà Nội xưa kia, thật là tao nhã.
Trong khi đó, Lý Trực Sơn (1949) hiện diện như một nhịp cầu hiếm hoi nối giữa nhiều thế hệ mỹ thuật Việt Nam. Thuộc lớp họa sĩ từng tiếp xúc trực tiếp với thế hệ cuối của Trường Mỹ thuật Đông Dương và những danh họa như Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng, Nguyễn Đỗ Cung,…, ông không hấp thụ từ họ kỹ thuật hay ngôn ngữ hội họa, mà là một tinh thần thẩm mỹ khắc kỷ, thơ tính và khả năng dung hòa giữa ảnh hưởng phương Tây với cảm quan Á Đông. Đi qua chiến tranh, thời kỳ đổi mới và bước chuyển của nghệ thuật đương đại Việt Nam, hội họa của Lý Trực Sơn giai đoạn này kế thừa và cũng khẳng định một phong cách của riêng ông.
Trong không gian của Sofitel Legend Metropole Hanoi, một công trình đã hiện diện cùng nhiều biến chuyển của Hà Nội trong hơn một thế kỷ, triển lãm mang thêm một tầng ý nghĩa. Không gian lịch sử không chỉ gợi nhắc về ký ức của một đô thị, mà còn trở thành nơi những thực hành nghệ thuật đương đại tiếp tục kết nối với các giá trị văn hóa đã được bồi đắp qua thời gian. “Phía sau Đông Dương” vì thế là nơi ký ức và hiện tại vẫn luôn song hành trong dòng chảy sáng tạo.
Phan Cẩm Thượng (sinh năm 1957) là họa sĩ, nhà nghiên cứu mỹ thuật và nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam, được xem như một trong những tiếng nói học thuật có ảnh hưởng sâu rộng nhất trong việc nghiên cứu mỹ thuật cổ và văn hóa dân gian Việt Nam đương đại. Ông đặc biệt nổi tiếng với các công trình nghiên cứu về mỹ thuật thời Lý, Trần, Lê và văn hóa thế kỷ XVII - XVIII.
Bên cạnh thực hành hội họa, Phan Cẩm Thượng còn là tác giả của 18 cuốn sách nghiên cứu về văn hóa, nghệ thuật - góp phần định hình nhận thức đương đại về mỹ thuật và đời sống văn hóa truyền thống Việt Nam. Các nghiên cứu của ông được đánh giá cao bởi khả năng kết nối mỹ thuật với nhân học, tín ngưỡng và đời sống dân gian.
Trong hội họa, Phan Cẩm Thượng phát triển một ngôn ngữ tạo hình giàu tính biểu tượng, chịu ảnh hưởng sâu sắc từ nghệ thuật dân gian, tranh thờ, sân khấu cổ và kiến trúc đình chùa Việt Nam. Tác phẩm của ông hiện nằm trong nhiều bộ sưu tập tư nhân quan trọng tại Việt Nam và quốc tế, đồng thời được xem như một thực hành hiếm hoi nơi nghiên cứu học thuật và hội họa hòa làm một.
![]()
Cánh hạc, Phan Cẩm Thượng, 60x40 cm, Sơn mài, 2026
![]()
Hạc vàng, Phan Cẩm Thượng, 90x60 cm, Sơn mài, 2026
![]()
Khúc cầm xoang, Phan Cẩm Thượng, 80x60 cm, Sơn mài, 2026
![]()
Bà Hoàng chùa Mật, Phan Cẩm Thượng, 60x60 cm, Sơn mài, 2022
Lý Trực Sơn (1949) là một trong những họa sĩ quan trọng của mỹ thuật Việt Nam đương đại, đồng sáng lập nhóm Sơn Ta và được xem như một trong những nghệ sĩ có ảnh hưởng lớn nhất tới sự phát triển của nghệ thuật sơn mài Việt Nam sau thời kỳ Đông Dương.
Ông từng giảng dạy tại Đại học Mỹ thuật Việt Nam, đồng thời có gần một thập kỷ sống và sáng tác tại Pháp và châu Âu (1989 – 1998). Quá trình này đã trở thành bước ngoặt giúp ông xây dựng một ngôn ngữ hội họa riêng, kết nối mỹ cảm Á Đông với tinh thần hiện đại quốc tế.
Các tác phẩm của Lý Trực Sơn từng được giới thiệu tại nhiều triển lãm quốc tế, bao gồm Biennale Nghệ thuật Quốc tế Bắc Kinh lần thứ 5, và hiện nằm trong các bộ sưu tập của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, National Gallery Prague cùng nhiều bộ sưu tập tư nhân trong và ngoài nước.
![]()
Xưởng vẽ, Lý Trực Sơn, 60x52 cm, Sơn mài, 2002
![]()
Không đề, Lý Trực Sơn, 80x62 cm, Sơn mài, 2000
Đỗ Thị Kim Đoan (sinh năm 1958 tại Hà Nội) tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật Hà Nội khóa 1977 – 1982, và là một trong những họa sĩ nữ tiêu biểu theo đuổi sơn mài đương đại Việt Nam hơn ba thập kỷ. Bà được ghi nhận bởi khả năng giữ gìn tinh thần Á Đông qua lối tạo hình ước lệ, đồng hiện và khả năng khai thác chiều sâu đặc biệt của sơn then truyền thống Việt Nam.
Trong dòng chảy mỹ thuật Việt Nam sau Đông Dương, Đỗ Thị Kim Đoan thuộc số ít nghệ sĩ kiên trì theo đuổi sơn mài như một thực hành sống hơn là một kỹ thuật trang trí. Các tác phẩm của bà, với hình ảnh phụ nữ, trẻ nhỏ, khu vườn và đời sống thường nhật, đã góp phần giữ một phần sơn mài Việt Nam ở lại với ký ức nội tâm, và cảm giác gia đình xưa cũ.
![]()
Sân sau 1, Đỗ Thị Kim Đoan, 40x40 cm, Sơn mài, 2026
![]()
Sân sau 2, Đỗ Thị Kim Đoan, 40x40 cm, Sơn mài, 2026
![]()
Góc vườn, Đỗ Thị Kim Đoan, 40x40 cm, Sơn mài, 2025
![]()
Trong vườn 6, Đỗ Thị Kim Đoan, 38x48 cm, Sơn mài, 2024
